Những "đốm lửa" kiên cường giữa lòng đại ngàn – Nghệ nhân dân gian, cái tên vô cùng gần gũi, thân quen, một danh hiệu mà chúng ta vẫn gọi và được ghi danh cho những người có đóng góp cho việc bảo tồn, lưu giữ, trao truyền và phát huy truyền thống văn hóa các dân tộc. Người Mông cũng vậy, giữa bạt ngàn núi đá Cao nguyên Đồng Văn, giữa bộn bề của nhịp sống hiện đại, khi mà những giá trị giữa hiện đại và truyền thống có đôi lúc rất mong manh thì vẫn có những người vẫn miệt mài, không ngừng nghỉ, chỉ để giữ cho văn hóa truyền thống dân tộc mình mãi trường tồn với thời gian. Giá trị sống của văn hóa người Mông không nằm trên những trang sách mà hiện hữu, sống động qua chân dung của những con người bằng xương, bằng thịt. Đó là những nghệ nhân dân gian vẫn hàng ngày không ngừng nghỉ thêu dệt nên bức tranh rực rỡ sắc màu qua những việc làm tưởng chừng như chỉ là bình thường như nó vốn có từ bao đời nay.

Nghề làm bạc ở Lao Xa
Câu chuyện của những người thợ đục đá, xếp đá, trình tường hay chạm, khắc bạc: Tại thôn Lao Xa, Sà Phìn, có những nghệ nhân cả đời gắn bó với nghề xếp đá, đục đá, trình tường hay chạm, khắc bạc. Họ là những người nắm giữ "mật mã" kiến trúc. Khi một ngôi nhà trình tường bị xuống cấp, chính bàn tay các nghệ nhân già lại tỉ mỉ hướng dẫn thanh niên trong thôn cách chọn đất, nện khuôn, xếp từng viên đá sao cho ngay ngắn, vững chãi trước mưa gió đại ngàn, đục, khắc tỉ mỉ những phiến đã trở thành những kiệt tác nghệ thuật để kê, đỡ cột nhà hay miệt mài thâu đêm cho những chiếc vòng bạc, chuỗi sà tích để làm sính lễ cho một cuộc hôn nhân của người Mông sắp bắt đầu… Tất cả đều diễn ra tự nhiên giữa cuộc sống đời thường.
Ông Mua Sè Sính, thôn Lao Xa, xã Sà Phìn bộc bạch: Tôi là đời thứ 3 dòng họ Mua của thôn duy trì truyền thống chạm, khắc bạc, năm nay tôi 75 tuổi, tôi có 9 người con trai, một người đã mất. Dù có thời điểm cuộc sống rất khó khăn, chật vật nhưng tôi vẫn luôn giáo dục các con phải cố gắng duy trì và giữ gìn nghề truyền thống của gia đình và may mắn, trong 8 đứa con của tôi thì có 6 đứa hiện đang theo nghề chạm, khắc bạc của gia đình, thêm một người em chú của tôi và ba đứa cháu trong dòng học nữa, lúc nào trong nhà tôi cũng có 9 người thường xuyên làm việc. Một người con của tôi đang công tác trong quân đội, còn lại một người con nữa đang duy trì nghề chế tác khèn Mông trong thôn. Tuổi tôi ngày càng già, yếu, chân, tay, mắt đều không còn linh hoạt, chỉ có lòng yêu nghề và nhiệt huyết thì chưa bao giờ vơi, còn chút sức khỏe nào tôi cố gắng truyền dạy và duy trì xưởng chạm, khắc bạc này vừa để giữ nghề truyền thống của gia đình, vừa để bảo tồn văn hóa của dân tộc, giống như bếp lửa trong ngôi nhà truyền thống người Mông không bao giờ tắt.

Nghệ nhân Mua Sè Sính
Những người người giữ nhịp cho tiếng khèn dưới mái nhà cổ: Tại nhiều thôn của người Mông, các nghệ nhân dân gian dù tuổi đã cao vẫn ngày ngày đón người trẻ đến nhà truyền dạy cách thổi khèn, múa khèn, cách làm những cây khèn. Dưới nếp nhà trình tường của người Mông, tiếng khèn không chỉ đơn giản là nhạc cụ giải trí, không chỉ tiếng lòng của người sống đối với người chết khi về với tổ tiên, là sự kết nối tâm linh khi trong gia đình có người lìa xa nhân thế (theo truyền thuyết của người Mông về cây khèn) mà là phương thức giao tiếp giữa con người, với con người giữa cuộc sống đời thường. Tiếng khèn vang vọng từ trong từng nếp nhà, theo chân người xuống chợ, tiếng khèn rìu rặt giữa chợ phiên trong chếnh choáng men say của mùi rượu ngô êm dịu. Giữa náo nhiệt chốn chợ phiên vùng cao vẫn văng vẳng tiếng khèn ở một góc nào đó trong không gian chất chứa văn hóa của núi rừng, có khi những tiếng khèn chỉ cất lên bởi họ trao đổi, mua bán thì phải thử xem khen kỹ thuật chế tác những chiến khèn đó có đạt độ chuẩn về âm thanh không và cùng có khi những tiếng khèn được vang lên bởi những tiếng lòng họ kể cho nhau nghe về cuộc sống, về tâm tình mà mình muốn nói thay cho tiếng lòng…... Nhờ sự kiên trì đó mà những giai điệu cổ xưa không bị chìm vào quên lãng trước âm thanh của nhạc điện tử hiện đại. Năm 2016, Tỉnh ủy Hà Giang đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TU về đưa kỹ năng sống và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vào giảng dạy trong các trường học trên địa bàn tỉnh Hà Giang, theo đó ngành giáo dục của tỉnh Hà Giang và các địa phương đã cụ thể hóa bằng nhiều văn bản phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương. Từ đó đến nay văn hóa truyền thống vẫn là nội dung quan trọng được đưa vào trong trường học và là một nội dung, yêu cầu bắt buộc được tổ chức thực hiện và báo cáo, đánh giá kết quả của mỗi kỳ học, mỗi năm học trong các trường. Trường tiểu học Sủng Là xã Sà Phìn hiện đang duy trì 01 câu lạc bộ khèn Mông đây là các “nghệ nhân nhí” đã được rèn luyện bởi nghệ nhân Sùng Mí Sử, 55 tuổi, thôn Đoàn Kết xã Sủng Là với tâm niệm về bảo tồn văn hóa là phải trao truyền, ngay từ những ngày đầu khi trường Tiểu học Sủng Là triển khai đưa kỹ năng sống và văn hóa vào giảng dạy trong trường học, ông đã không ngần ngại dạy thổi khèn, múa khèn cho các em học sinh. Trong suốt 8 năm, ông đã truyền dạy cho các thế hệ học sinh trường tiểu học Sủng Là, ngoài ra, em trai ông, là ông Sùng Mí Chứ cũng hỗ trợ ông những lúc các em học sinh đến đông. Địa điểm dạy khèn cũng rất linh hoạt, thường thì 2 ông dạy thổi khèn, múa khèn tại nhà vào thứ bảy, chủ nhật để học sinh không ảnh hưởng đến việc học tập, cũng có lúc nhà trường mời 2 ông đến trường để dạy cho học sinh khi chuẩn bị có dịp trọng đại. Tin lành đồn xa, không chỉ dạy cho các em ở trong xã, nhiều cha mẹ ở các xã lân cận như Lũng Cú hay Khâu Vai biết 2 ông tận tình cũng gửi con đến thôn Đoàn Kết để học thổi và múa khèn Mông. Ông Mua Mí Sử cho rằng “Tôi chỉ lo không ai đến học vì như thế nguy cơ tiếng khèn của người Mông sẽ biến mất trong tương lai, nhưng các cháu đã biết yêu cây khèn, tiếng khèn và những điệu múa khèn của dân tộc mình, vì vậy tôi dạy các cháu thấy rất vui, phấn khởi trong lòng, giiongs như là mình đã làm được một việc cho đồng bào Mông mình.
May mắn thay, tại lễ hội Khèn Mông thường niên năm 2026 diễn ra tại xã Đồng Văn (Trước đây là Lễ Hội khèn Mông huyện Đồng Văn), đội “nghệ nhân nhí” của Trường tiểu học Sủng Là xã Sà Phìn tham gia biểu diễn đã dành giải nhất, đó là phần thưởng cho sự hăng say, miệt mài cua các em, song cũng là phẩn thưởng cho chính những nghệ nhân như ông Sùng Mí Sử vì đã góp phần để tiếng khèn của người Mông mãi vang xa.

Nghệ nhân Sùng Mí Sử hướng dẫn học sinh thổi khèn
Hồi sinh trang phục truyền thống bên hiên nhà: Những người mẹ, người bà người Mông miệt mài bên khung cửi dệt lanh, thêu, dệt bên hiên nhà trình tường. Những tấm vải lanh lóng lánh, hoa văn thêu tay tỉ mỉ không chỉ phục vụ gia đình mà nay đã trở thành những món quà lưu niệm độc đáo, mang lại nguồn thu nhập trực tiếp cho phụ nữ vùng cao nhờ lượng khách du lịch ghé thăm ngày một đông. Nếu như chế tác khèn và tiếng khèn gắn với sự trưởng thành, tài giỏi của người đàn ông Mông trong những nếp nhà truyền thống thì phụ nữ người Mông cũng có những thang, bậc riêng có. Cũng chính vì vậy, xưa kia trong bất cứ gia đình một người Mông nào những thứ không thể thiếu và luôn luôn gắn liền với đời sống của họ, mà cụ thể hơn là luôn gắn liền với quá trình trưởng thành của một người phụ nữ Mông đó là những mớ sợi lanh, những con thoi, cuộn chỉ hay máy quay sợi, khung cửi dệt vải….. đó là những thứ đã giúp cho các thế hệ phụ nữ người Mông dệt nên những “bức tranh nghệ thuật” và sẽ khoác lên minh khi về nhà chồng, khi xuống chợ phiên hay mỗi dịp tết đến, xuân về và quan trọng hơn hết một người phụ nữ Mông thực thụ lúc trưởng thành, nhất là khi xuất giá về nhà chồng cô ấy, chị ấy đã tự thêu, dệt cho mình được bao nhiêu bộ trang phục. Đó cũng chính là tố chất mà những nghệ nhân dân gian người Mông là phụ nữ luôn tự hào và hãnh diện.
Tuy nhiên, giữa “Cơn lốc” của nhịp sống hiện đại, cơ chế thị trường, sự phát triển của công nghệ thông tin, nhất là sự đa dạng, phong phú, tiện lợi của mạng xã hội, “làn sóng” đô thị hóa và áp lực kinh tế đang tạo ra những lực đẩy rất mạnh, làm rạn nứt những giá trị văn hóa vốn được bao bọc bấy lâu sau những bờ rào đá, trong những ngôi nhà trình tường đất lợp mái ngói âm dương hay những khung cửi dệt lanh cổ kính.
Thứ nhất, sự đứt gãy không gian sống do xu hướng "bê tông hóa": Cuộc sống hiện đại đòi hỏi sự tiện nghi. Những ngôi nhà trình tường đất nện tuy ấm đông mát hè nhưng lại thiếu hệ thống công trình phụ khép kín, dễ ẩm mốc nếu không được bảo dưỡng đúng cách. Vì nhu cầu sinh hoạt, nhiều gia đình trẻ chọn đập bỏ nhà cổ, nhà truyền thống để xây nhà bê tông mái tôn, nhà ống kiểu lợp thành thị. Sự thay đổi này không chỉ làm biến dạng cảnh quan chung của các thôn, bản mà còn làm mất đi không gian kiến trúc tâm linh – nơi ngự trị của thần cửa, thần bếp theo tín ngưỡng người Mông.
Thứ hai, cơn lốc công nghệ và sự khủng hoảng thế hệ kế cận: Sự xuất hiện của điện thoại thông minh, internet và mạng xã hội giúp vùng cao xích lại gần miền xuôi, nhưng cũng vô tình đẩy thế hệ trẻ người Mông rời xa văn hóa cội nguồn. Giới trẻ ngày nay dễ bị cuốn theo các trào lưu giải trí hiện đại, nhạc pop điện tử hơn là dành hàng tháng trời kiên nhẫn học cách đục, đẽo những tảng đá, lấy hơi thổi khèn, hay ngồi bên khung cửi dệt lanh, thêu thùa. Khi các nghệ nhân già khuất núi, kho tàng văn hóa phi vật thể đồ sộ đứng trước nguy cơ "vô chủ" vì không có người tiếp nối.
Thứ ba, áp lực sinh kế và xu hướng ly hương: Kinh tế thị trường mở ra nhiều cơ hội việc làm ở các khu công nghiệp dưới miền xuôi hoặc các thành phố lớn. Thanh niên người Mông đến tuổi lao động có xu hướng ly hương để tìm kiếm thu nhập ổn định thay vì ở lại thôn, bản làm nông hoặc làm các nghề thủ công truyền thống (đục, đẽo, dệt lanh, chế tác nhạc cụ) vốn cho thu nhập bấp bênh. Những ngôi nhà trình tường chỉ còn lại người già và trẻ nhỏ, bếp lửa không còn được sưởi ấm thường xuyên, khiến sức sống nội tại của ngôi nhà bị suy giảm.
Thứ tư, mặt trái của thương mại hóa du lịch: Khi du lịch phát triển quá nóng, một số địa phương, nhất là nơi du lịch đang bắt đầu phát triển rơi vào cái bẫy "thương mại hóa lệch lạc". Để phục vụ thị hiếu đám đông, một số hoạt động văn hóa bị "sân khấu hóa", giả tạo hóa. Các dịch vụ lưu trú homestay do người từ nơi khác đến đầu tư đôi khi làm thay đổi hoàn toàn kiến trúc bên trong ngôi nhà trình tường, biến di sản thành một công cụ sinh lời thuần túy, làm phai nhạt tính chân thực và sự linh thiêng vốn có của không gian sống người Mông.
Để tiếp tục phát huy tốt các giá trị văn hóa của người Mông trong đó phát huy tinh thần, trách nhiệm của Nghệ nhân dân gian - những người “Giữ lửa” trong từng nếp nhà truyền thống trước sự tác động mạnh mẽ của nhịp sống hiện đại, cần có những chủ trương, giải pháp cả trước mắt và lâu dài trên cơ sở những định hướng chiến lược mang tầm quốc gia và cụ thể hóa của địa phương đã đặt ra.
Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 – 2030 được Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV khẳng định: “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”; Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030 tiếp tục nhấn mạnh: “Triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các kết luận của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, xây dựng con người Tuyên Quang phát triển toàn diện. Gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch, văn học nghệ thuật….”. Từ đó, cần nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng, Nhà nước, của Tỉnh để thực hiện tốt một số nhiệm vụ:
Kết hợp giữa nghệ nhân và chính quyền để bảo tồn bền vững: Thực tế, bảo tồn di sản không thể là cuộc chiến đơn độc của các nghệ nhân, mà cần một cơ chế đồng hành, hỗ trợ mạnh mẽ từ chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý về văn hóa, du lịch; thực hiện cơ chế "Bảo tồn sống" và hỗ trợ sinh kế từ các ngôi nhà cổ. Cần tiếp tục quy hoạch các thôn, làng có nhà cổ, nhà truyền thống (thôn Lũng Cẩm Trên, Lao Xa, cụm dân cư Cẩu Há, thôn Lùng Thàng xã Sà Phìn) hay một số thôn, cụm dân cư đã và đang được quan tâm định hướng phát triển trong vùng Công viên địa chất UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn thành khu bảo tồn kiến trúc bắt buộc. Hỗ trợ kinh phí cho người dân khi sửa chữa nhà bằng vật liệu tự nhiên (ngói âm dương, gỗ, đất nện) thay vì để họ tự phát bê tông hóa. Khuyến khích và hướng dẫn người dân chuyển đổi mô hình từ nhà ở thuần túy sang homestay đón khách du lịch nhưng phải giữ nguyên cấu trúc không gian ba gian truyền thống.
Tôn vinh và đãi ngộ xứng đáng cho các nghệ nhân: Cần có quỹ hỗ trợ sinh kế hoặc phụ cấp hàng tháng cho các nghệ nhân dân gian được nhà nước phong tặng danh hiệu, giúp họ vơi bớt gánh nặng cơm áo để tâm huyết truyền nghề. Chính quyền phối hợp cùng nghệ nhân mở các lớp học ngoại khóa, câu lạc bộ khèn Mông, thêu lanh, rèn đúc thủ công ngay tại các trường học bán trú địa phương để tạo thế hệ kế cận một cách bài bản.
Xây dựng sản phẩm du lịch "Chân thực và Tôn trọng": Cơ quan quản lý du lịch cần định hướng các công ty lữ hành xây dựng các tour du lịch có trách nhiệm. Du khách đến đây không chỉ để "check-in"- chụp ảnh, mà để lắng nghe nghệ nhân kể chuyện, cùng trải nghiệm nện tường đất, học thổi khèn, múa khèn, thêu dệt lanh, xếp bờ rào đá, đục đá…..Trích một phần doanh thu từ vé tham quan các làng văn hóa để tái đầu tư vào việc bảo dưỡng không gian cảnh quan chung, tạo động lực kinh tế rõ ràng cho cộng đồng giữ gìn di sản.
Sự đồng lòng giữa cơ chế chính sách của chính quyền và ngọn lửa đam mê, uy tín của các nghệ nhân dân gian chính là "chiếc kiềng ba chân" vững chãi nhất. Sự kết hợp này giúp những ngôi nhà trình tường của người Mông không trở thành những "bảo tàng chết", mà luôn là những không gian sống động, vừa nuôi dưỡng tâm hồn một tộc người, vừa là điểm tựa vững vàng để kinh tế du lịch vùng cao cất cánh.
Tác giả: Lý Thị Kiên, Đảng ủy xã Sà Phìn